| Giải pháp nào cho việc tăng cường công tác quản lý với các cơ sở Giáo dục đào tạo có yếu tố nước ngoài |
|
|
| Thứ tư, 01 Tháng 7 2009 08:34 | |||
|
Giải pháp nào cho việc tăng cường công tác quản lý với các cơ sở Giáo dục đào tạo có yếu tố nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của người học Sơn Tùng
Theo báo cáo của Bộ GD&ĐT tính đến quý IV năm 2008 cả nước có 112 dự án đầu tư trực tiếp đầu tư nước ngoài (FDI) với tổng số vốn 235.724.973 USD, tập trung ở các thành phố lớn. Trong đó 56,25% ở Thành phố Hồ Chí Minh và 30,3% ở Hà Nội. Đồng thời có 14 cơ sở giáo dục do đại diện ngoại giao của các nước và các tổ chức quốc tế. Có 73 dự án do nước ngoài đầu tư thành lập các cơ sở đào tạo ngắn hạn như các trung tâm đào tạo nghiệp vụ tin học, kế toán, tài chính quốc tế và chủ yếu là ngoại ngữ (chiếm 58%). Theo báo cáo của Sở GD&ĐT Hà Nội, cho đến nay Sở đã cấp phép cho 17 cơ sở có 100% vốn đầu tư nước ngoài, có 20 trường công lập và ngoài công lập có dự án đào tạo liên kết với nước ngoài, có sử dụng chương trình, giáo viên bằng cấp nước ngoài, có 58 trung tâm ngoại ngữ, tin học có yếu tố nước ngoài. Theo xu thế phát triển của các nước trong khu vực như Thái Lan, Malayxia, Inđônêxia, số các cơ sở GD&ĐT có yếu tố nước ngoài những năm gần đây đều tăng. Việt Nam đã gia nhập WTO, chắc chắn số nhà đầu tư muốn vào "kinh doanh" giáo dục ở Việt Nam ngày càng nhiều. Việc các cơ sở GD&ĐT có yếu tố nước ngoài ngày một phát triển là một tín hiệu tốt lành về khả năng hội nhập quốc tế của Việt Nam. Giáo dục Việt Nam có điều kiện được tiếp cận và hưởng thụ một nền giáo dục tiên tiến theo chuẩn quốc tế. Hiện nay một số cơ sở đào tạo ngoại ngữ, tin học hay nghiệp vụ tài chính kế toán đều có thể đạt chuẩn của chương trình đào tạo quốc tế. Một số cơ sở đào tạo được xây dựng và quản lý theo chuẩn quốc tế cũng là những mẫu hình tổ chức quản lý có tổ chức chuyên nghiệp, đạt chuẩn mực quốc tế, đáng để chúng ta học tập, nâng cao chất lượng quản lý của nhà trường Việt Nam. Những đóng góp đó là tích cực, nhưng không phải cơ sở GD&ĐT có yếu tố nước ngoài nào cũng làm được như vậy. Họ đã lợi dụng thói quen không tốt của người Việt chúng ta là "sính ngoại", cứ thấy dán nhãn "quốc tế" là tin ngay và sẵn sàng bỏ tiền "đắt mấy cũng mua". Hoàn toàn người học của chúng ta (học sinh, sinh viên và cha mẹ học sinh) không đủ thông tin, không đủ trình độ để đánh giá chất lượng đào tạo của các sơ sở này tiền học phải trả theo giá "quốc tế" nhưng liệu chất lượng đào tạo có bằng chất lượng các chương trình "nội địa" hay không? Vì có cơ sở thiếu những giáo viên có trình độ, có bằng cấp đào tạo chính quy đã lấy cả "Tây balô" vào đứng lớp. Cốt có người nước ngoài là được. Đào tạo như vậy làm sao có được chất lượng? Nhất là trong giai đoạn "chạng vạng" hiện nay khi mà các cơ quan quản lý Nhà nước đang còn buông lỏng, "bất cập". Theo giải trình của Bộ GD&ĐT trước Quốc hội cũng đã phải đánh giá: chúng ta còn để cho "một số cơ sở GD có vốn nước ngoài hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận đã quảng cáo sai mục tiêu, chức năng được xác định trong giấy chứng nhận đầu tư" "Trong thực tế công tác quản lý của các cơ sở này còn có nhiều hạn chế do thiếu phối hợp giữa các cơ quan quản lý giáo dục không nhận được giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư" "Công tác kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ sở giáo dục do nước ngoài đầu tư chưa được thực hiện thường xuyên và chặt chẽ. Nhiều trường hợp chỉ kiểm tra, thanh tra khi cơ sở có sai phạm. Chưa có các biện pháp, công cụ giám sát các hoạt động tài chính của các cơ sở GD&ĐT của nước ngoài đầu tư" (Theo báo GDTĐ số 73 ngày 18 tháng 06 năm 2009). Do đó vấn đề được đặt ra có tính chất cấp bách lúc này là làm thế nào để tăng cường quản lý đối với các cơ sở Giáo dục Đào tạo có yếu tố nước ngoài để đảm bảo cho các cơ sở Giáo dục đào tạo này thật sự làm đúng với những cam kết khi vào đầu tư, thật sự tham gia đóng góp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam. Đây cũng chính là cách chúng ta bảo vệ tốt nhất cho quyền lợi của người học. Trước hết nhà nước ngoài việc điều chỉnh các văn bản pháp quy sao cho sát với sự phát triển thực tế các tổ chức giáo dục nước ngoài đang kéo vào Việt Nam ngày một đông. Những văn bản này phải đủ thông thoáng để mời gọi các nhà đầu tư nhưng phải đủ chặt chẽ để thể hiện được chủ quyền và bảo vệ được quyền lợi của người học. Mặt khác ta phải nâng hàng rào để chọn lọc những cơ sở giáo dục đầu tư nước ngoài nào có đủ uy tín truyền thống và cam kết thực hiện đúng các chuẩn mực giáo dục quốc tế mới cho phép vào Việt Nam, tránh tình trạng "Ai có tiền đăng ký đầu tư là cho vào" như một số tổ chức giáo dục yếu kém không làm ăn được ở chính quốc thì sang Việt Nam đầu tư hoặc từ những ngành nghề chẳng có kinh nghiệm gì về giáo dục cũng vào Việt Nam làm giáo dục. Mặt khác phải có những cơ quan chuyên trách được đầu tư đủ mạnh: đủ về số lượng cán bộ và có trình độ chuyên môn nghiệp vụ đạt chuẩn quốc tế để kiểm soát các cơ sở Giáo dục đào tạo có yếu tố nước ngoài này. Hiện nay mới chỉ có 2 Sở Giáo dục đào tạo Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là có phòng quản lý cơ sở giáo dục đào tạo có yếu tố nước ngoài nhưng chưa được đầu tư tương xứng. Có văn bản pháp lý tốt nhưng không có cơ quan thực thi kiểm soát cũng không có hiệu quả, đặc biệt chúng ta không cải tiến phân cấp cho 1 cơ quan chủ quản, lúc nào cũng phải liên ngành mới kiểm tra được, chắc chắn cách làm đó là không kịp thời và không chính quy, chuyên nghiệp được. Thứ hai, đối với các cơ sở Giáo dục đào tạo có yếu tố nước ngoài, không thể không tiến hành đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục theo đúng thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Có ý kiến việc kiểm định chất lượng các cơ sở Giáo dục đào tạo này phải mời các tổ chức kiểm định của các nước vào kiểm định. Làm được điều này là "nhẹ gánh" cho ta nhưng lại là kẽ hở để những tổ chức cơ sở giáo dục đào tạo có yếu tố nước ngoài muốn gian dối lại mời những tổ chức quốc tế không có uy tín, không có chất lượng và lấy gì để đảm bảo họ đã theo chuẩn mực quốc tế. Làm như vậy liệu chúng ta có mất chủ quyền? Tại sao hiện nay, chúng ta không cho phép thành lập những tổ chức kiểm định độc lập của Việt Nam được huấn luyện theo chuẩn quốc tế và chúng ta làm chủ, tự kiểm định đánh giá theo chuẩn mực quốc tế và những chuẩn mực Việt Nam yêu cầu. Nếu chúng ta làm chặt chẽ thường xuyên việc này chắc chắn các tổ chức Giáo dục đào tạo có yếu tố nước ngoài tự nhiên sẽ vào "Khuôn phép của Việt Nam". Thứ ba: Chúng ta cần phát huy vai trò làm chủ của người học, làm thế nào để tự người học có điều kiện giám sát quá trình đào tạo và kết quả đào tạo. Muốn vậy các văn bản pháp quy của Việt Nam phải quy định các cơ sở đào tạo phải công khai chương trình đào tạo, phải công khai năng lực trình độ người dạy; công khai điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc học tập, thực hành nâng cao tay nghề... Chỉ có trên cơ sở công khai, minh bạch của cơ sở đào tạo, người học mới tham gia giám sát, bảo vệ quyền lợi của mình. Trong các văn bản quy định của nhà nước với các cơ sở Giáo dục đào tạo có yếu tố nước ngoài cũng phải ghi rõ nghĩa vụ công khai của các Sở Giáo dục đào tạo này và người học có quyền được khiếu nại đến các cơ quan quản lý giáo dục để bảo vệ quyền lợi của mình. Nếu nhà nước chưa thể tổ chức kiểm định đánh giá chất lượng đào tạo của các cơ sở Giáo dục đào tạo có yếu tố nước ngoài, thì phải có nghị định sớm, quy định việc công khai những điều kiện đảm bảo chất lượng của mỗi cơ sở và ghi nhận quyền tự chủ, tự bảo vệ quyền lợi của bản thân người học. Một giải pháp khác, chúng ta có thể học tập kinh nghiệm của nhiều nước, đó là giúp cho chính các cơ sở giáo dục này họ phải tự bảo vệ "thương hiệu" của mình thông qua việc nhà nước Việt Nam cho phép thành lập Hiệp hội các cơ sở Giáo dục đào tạo có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam để họ tự hoạt động, tự kiểm tra và nhà nước Việt Nam coi xác nhận tự kiểm tra, kiểm định chất lượng của hiệp hội là một kênh thông tin để người học kiểm chứng và có ý kiến. Theo kế hoạch của Bộ Giáo dục đào tạo đến năm 2010 mới tổng kết 10 năm để đánh giá hoạt động của các cơ sở Giáo dục đào tạo có yếu tố nước ngoài chắc sau hội nghị này mới có những quyết sách ra đời để đổi mới công tác quản lý đối với cơ sở giáo dục đào tạo có yếu tố nước ngoài. Chúng tôi thiết nghĩ nhà nước chậm một ngày, người dân thiệt hại nhiều ngày, số người thiệt hại càng nhiều hơn. Hãy làm ngay những việc có thể khi dân cần. Hà Nội, ngày 26 tháng 06 năm 2009
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|
| Trang chủ |
| Tin tức |
| Bài viết |
| Trao đổi |
| Trung tâm tài nguyên |
| Sản phẩm của CENTEA |
| Danh sách liên kết |
| Danh bạ Trường học |
| Cộng tác viên |
| Đăng ký nhận bản tin |
| Những câu hỏi thường gặp |
| Các yêu cầu chưa hồi âm |
| Hướng dẫn gửi bài |
| Hướng dẫn liên hệ |
| Liên hệ |
| Quy định sử dụng |
| Về chúng tôi |
1029 lượt giáo viên








![]() | Hôm nay | 4341 |
![]() | Hôm qua | 12665 |
Đăng ký nhận bản tin của CENTEA qua email.
Viết lời bình
Thầy Cô và các bạn vui lòng gõ tiếng Việt có dấu